[Site Bibliq | Site Bibliquest | Site Bibliq-Vietnam | Site Cantiquest | Bible]
Giăng
Giăng 1
1:1 Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời
ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức
Chúa Trời. 1:2 Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa
Trời. 1:3 Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật
chi đã làm nên mà không bởi Ngài. 1:4 Trong Ngài có sự sống,
sự sống là sự sáng của loài người. 1:5 Sự
sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận
lấy sự sáng. 1:6 Có một người Đức Chúa
Trời sai đến, tên là Giăng. 1:7 Người đến
để làm chứng, là làm chứng về sự sáng, hầu
cho bởi người ai nấy đều tin. 1:8 Chính
người chẳng phải là sự sáng, song người
phải làm chứng về sự sáng. 1:9 Sự sáng nầy
là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi
người.
Giăng 2
2:1 Cách ba ngày sau, có đám cưới tại
thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, và mẹ Đức Chúa Jêsus có
tại đó. 2:2 Đức Chúa Jêsus cũng được
mời đến dự đám với môn đồ Ngài.
2:3 Vừa khi thiếu rượu, mẹ Đức Chúa
Jêsus nói với Ngài rằng: Người ta không có rượu
nữa. 2:4 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi
đàn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ
ta chưa đến. 2:5 Mẹ Ngài nói với những kẻ
hầu bàn rằng: Người biểu chi, hãy vâng theo cả.
2:6 Vả, tại đó có sáu cái ché đá, định dùng về
sự rửa sạch cho người Giu-đa, mỗi cái
chứa hai ba lường nước. 2:7 Đức Chúa
Jêsus biểu họ rằng: Hãy đổ nước đầy
những ché nầy; thì họ đổ đầy tới
miệng. 2:8 Ngài bèn phán rằng: Bây giờ hãy múc đi,
đem cho kẻ coi tiệc. Họ bèn đem cho. 2:9 Lúc kẻ
coi tiệc nếm nước đã biến thành rượu
(vả, người không biết rượu nầy đến
bởi đâu, còn những kẻ hầu bàn có múc nước
thì biết rõ), bèn gọi chàng rể,
Giăng 3
3:1 Trong vòng người Pha-ri-si, có
người tên là Ni-cô-đem, là một người trong những
kẻ cai trị dân Giu-đa. 3:2 Ban đêm, người nầy
đến cùng Đức Chúa Jêsus mà nói rằng: Thưa thầy,
chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời
đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu
Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm
được. 3:3 Đức Chúa Jêsus cất tiếng
đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng
ngươi, nếu một người chẳng sanh lại,
thì không thể thấy được nước Đức
Chúa Trời. 3:4 Ni-cô-đem thưa rằng: Người
đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào
trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? 3:5 Đức
Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta
nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ
nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào
nước Đức Chúa Trời. 3:6 Hễ chi sanh bởi
xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần.
3:7 Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với
ngươi: Các ngươi phải sanh lại. 3:8 Gió muốn
thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động;
nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và
cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh
bởi Thánh Linh thì cũng như vậy. 3:9 Ni-cô-đem lại
nói: Điều đó làm thể nào được?
Giăng 4
4:1 Khi Chúa đã hay rằng người Pha-ri-si có nghe đồn Ngài gọi và làm phép báp tem được nhiều môn đồ hơn Giăng, 4:2 (kỳ thiệt không phải chính Đức Chúa Jêsus làm phép báp tem, nhưng là môn đồ Ngài), 4:3 thì Ngài lìa xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê. 4:4 Vả, Ngài phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri. 4:5 Vậy Ngài đến một thành thuộc về xứ Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần đồng ruộng mà Gia-cốp cho Giô-sép là con mình. 4:6 Tại đó có cái giếng Gia-cốp. Nhân đi đường mỏi mệt, Đức Chúa Jêsus ngồi gần bên giếng; bấy giờ độ chừng giờ thứ sáu. 4:7 Một người đàn bà Sa-ma-ri đến múc nước. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy cho ta uống. 4:8 Vì môn đồ Ngài đã đi ra phố đặng mua đồ ăn. 4:9 Người đàn bà Sa-ma-ri thưa rằng: Ủa kìa! ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đàn bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân Sa-ma-ri.) 4:10 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Đức Chúa Trời, và biết người nói: "Hãy cho ta uống" là ai, thì chắc ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống. 4:11 Người đàn bà thưa: Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi đâu có nước sống ấy? 4:12 Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp để giếng nầy lại cho chúng tôi, chính người uống giếng nầy, cả đến con cháu cùng các bầy vật người nữa, vậy Chúa há lớn hơn Gia-cốp sao? 4:13 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi; 4:14 nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó văng ra cho đến sự sống đời đời. 4:15 Người đàn bà thưa: Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa. 4:16 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi trở lại đây. 4:17 Người đàn bà thưa rằng: Tôi không có chồng. Đức Chúa Jêsus lại phán: Ngươi nói rằng: Tôi không có chồng, là phải lắm; 4:18 vì ngươi đã có năm đời chồng, còn người mà ngươi hiện có, chẳng phải là chồng ngươi; điều đó ngươi đã nói thật vậy. 4:19 Người đàn bà thưa rằng: Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri. 4:20 Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem. 4:21 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem. 4:22 Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến. 4:23 Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy. 4:24 Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy. 4:25 Người đàn bà thưa: Tôi biết rằng Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Christ) phải đến; khi Ngài đã đến, sẽ rao truyền mọi việc cho chúng ta. 4:26 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó. 4:27 Khi đó, môn đồ tới, đều sững sờ về Ngài nói với một người đàn bà; nhưng chẳng ai hỏi rằng: Thầy hỏi người ấy điều chi? hay là: Sao thầy nói với người? 4:28 Người đàn bà bèn bỏ cái vò của mình lại và vào thành, nói với người tại đó rằng: 4:29 Hãy đến xem một người đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm; ấy chẳng phải là Đấng Christ sao? 4:30 Chúng bèn từ trong thành ra và đến cùng Đức Chúa Jêsus. 4:31 Song le, môn đồ nài nỉ một bên Ngài mà rằng: Thưa thầy, xin hãy ăn. 4:32 Ngài đáp rằng: Ta có một thứ lương thực để nuôi mình mà các ngươi không biết. 4:33 Vậy môn đồ nói với nhau rằng: Có ai đã đem chi cho thầy ăn chăng? 4:34 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài. 4:35 Các ngươi há chẳng nói rằng còn bốn tháng nữa thì tới mùa gặt sao? Song ta nói với các ngươi: Hãy nhướng mắt lên và xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt. 4:36 Con gặt đã lãnh tiền công mình và thâu chứa hoa lợi cho sự sống đời đời, hầu cho người gieo giống và con gặt được cùng nhau vui vẻ. 4:37 Vì đây người ta có thể nói rằng: Người nầy thì gieo, người kia thì gặt, là rất phải. 4:38 Ta đã sai các ngươi gặt nơi mình không làm; kẻ khác đã làm, còn các ngươi thì đã vào tiếp lấy công lao của họ. 4:39 Có nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì cớ lời đàn bà đã làm chứng về Ngài mà rằng: Ngài đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm. 4:40 Vậy, các người Sa-ma-ri đã đến cùng Ngài, xin Ngài vào trọ nơi mình; Ngài bèn ở lại đó hai ngày. 4:41 Khi đã nghe lời Ngài rồi, người tin Ngài càng đông hơn nữa. 4:42 Họ nói với người đàn bà rằng: Ấy không còn phải vì điều ngươi đã nói với chúng ta mà chúng ta tin đâu; vì chính chúng ta đã nghe Ngài, và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian. 4:43 Khỏi hai ngày ấy, Đức Chúa Jêsus từ đó đi qua xứ Ga-li-lê 4:44 (vì chính Ngài đã phán rằng một người tiên tri chẳng bao giờ được tôn kính trong quê hương mình). 4:45 Khi đã đến xứ Ga-li-lê, Ngài được dân xứ ấy tiếp rước tử tế, bởi dân đó đã thấy mọi điều Ngài làm tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày lễ; vì họ cũng có đi dự lễ. 4:46 Vậy, Ngài lại đến thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, là nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Nguyên ở tại thành Ca-bê-na-um, có một quan thị vệ kia, con trai người mắc bịnh. 4:47 Quan đó nghe Đức Chúa Jêsus đã từ xứ Giu-đê đến xứ Ga-li-lê, bèn tìm đến và xin Ngài xuống đặng chữa cho con mình gần chết. 4:48 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi không thấy phép lạ và điềm lạ, thì các ngươi chẳng tin! 4:49 Quan thị vệ trả lời rằng: Lạy Chúa, xin Chúa xuống trước khi con tôi chưa chết! 4:50 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, con của ngươi sống. Người đó tin lời Đức Chúa Jêsus đã phán cho mình, bèn đi. 4:51 Người đang đi dọc đường, các đầy tớ người đến đón mà rằng: Con trai chủ sống. 4:52 Người bèn hỏi họ con trai mình đã thấy khá nhằm giờ nào. Họ trả lời rằng: bữa qua, hồi giờ thứ bảy, cơn rét lui khỏi. 4:53 Người cha nhận biết rằng ấy là chính giờ đó Đức Chúa Jêsus đã phán cùng mình rằng: Con của ngươi sống; thì người với cả nhà đều tin. 4:54 Ấy là phép lạ thứ hai mà Đức Chúa Jêsus đã làm, khi Ngài từ xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.
Giăng 5
5:1 Kế đó, có một ngày lễ của dân Giu-đa, Đức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem. 5:2 Số là, tại thành Giê-ru-sa-lem, gần cửa Chiên, có một cái ao, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Bê-tết-đa, xung quanh ao có năm cái vòm cửa. 5:3 Những kẻ đau ốm, mù quáng, tàn tật, bại xuội nằm tại đó rất đông, [chờ khi nước động; 5:4 vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động; lúc nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất kỳ mắc bịnh gì, cũng được lành]. 5:5 Nơi đó, có một người bị bịnh đã được ba mươi tám năm. 5:6 Đức Chúa Jêsus thấy người nằm, biết rằng đau đã lâu ngày thì phán: Ngươi có muốn lành chăng? 5:7 Người bịnh thưa rằng: Lạy Chúa, tôi chẳng có ai để quăng tôi xuống ao trong khi nước động; lúc tôi đi đến, thì kẻ khác đã xuống ao trước tôi rồi. 5:8 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đứng dậy, vác giường ngươi và đi. 5:9 Tức thì người ấy được lành, vác giường mình và đi. Vả, bấy giờ là ngày Sa-bát. 5:10 Các người Giu-đa bèn nói với kẻ được chữa lành rằng: Nay là ngày Sa-bát, ngươi không phép mang giường mình đi. 5:11 Người trả lời rằng: Chính người đã chữa tôi được lành biểu tôi rằng: Hãy vác giường ngươi và đi. 5:12 Họ hỏi rằng: Người đã biểu ngươi: Hãy vác giường và đi, là ai? 5:13 Nhưng người đã được chữa lành không biết là ai: vì Đức Chúa Jêsus đã lẫn trong đám đông tại chỗ đó. 5:14 Sau lại, Đức Chúa Jêsus gặp người đó trong đền thờ, bèn phán rằng: Kìa, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng. 5:15 Người đó đi nói với các người Giu-đa rằng ấy là Đức Chúa Jêsus đã chữa lành cho mình. 5:16 Nhân đó dân Giu-đa bắt bớ Đức Chúa Jêsus, vì cớ Ngài làm những sự ấy trong ngày Sa-bát. 5:17 Nhưng Ngài phán cùng họ rằng: Cha ta làm việc cho đến bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy. 5:18 Bởi cớ đó, dân Giu-đa càng kiếm cách nữa để giết Ngài, chẳng những vì Ngài phạm ngày Sa-bát thôi, mà lại vì Ngài gọi Đức Chúa Trời là Thân phụ mình, làm ra mình bằng Đức Chúa Trời. 5:19 Vậy, Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, Con chẳng tự mình làm việc gì được; chỉ làm điều chi mà Con thấy Cha làm; vì mọi điều Cha làm, Con cũng làm y như vậy. 5:20 Cha yêu Con và tỏ cho mọi điều Cha làm; Cha sẽ tỏ cho Con công việc lớn lao hơn những việc nầy nữa, để các ngươi lấy làm lạ lùng. 5:21 Vả, Cha khiến những kẻ chết sống lại và ban sự sống cho họ thể nào, thì Con cũng ban sự sống cho kẻ Con muốn thể ấy. 5:22 Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con, 5:23 đặng ai nấy đều tôn kính Con, cũng như tôn kính Cha vậy. Ai không tôn kính Con, ấy là không tôn kính Cha, là Đấng đã sai Con đến. 5:24 Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. 5:25 Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống. 5:26 Vì như Cha có sự sống trong mình, thì Cha cũng đã ban cho Con có sự sống trong mình vậy. 5:27 Cha đã ban quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì là Con người. 5:28 Chớ lấy điều đó làm lạ; vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi: 5:29 ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán. 5:30 Ta không thể tự mình làm nổi việc gì; ta xét đoán theo điều ta nghe, và sự xét đoán ta là công bình, vì ta chẳng tìm ý muốn của ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai ta. 5:31 Nếu ta tự mình làm chứng lấy, thì sự làm chứng ấy không đáng tin. 5:32 Có người khác làm chứng cho ta, và ta biết rằng chứng người đó làm cho ta là đáng tin. 5:33 Các ngươi có sai sứ đến cùng Giăng, thì người đã làm chứng cho lẽ thật. 5:34 Còn ta, lời chứng mà ta nhận lấy chẳng phải bởi người ta; nhưng ta nói vậy, đặng các ngươi được cứu. 5:35 Giăng là đuốc đã thắp và sáng, các ngươi bằng lòng vui tạm nơi ánh sáng của người. 5:36 Nhưng ta có một chứng lớn hơn chứng của Giăng; vì các việc Cha đã giao cho ta làm trọn, tức là các việc ta làm đó, làm chứng cho ta rằng Cha đã sai ta. 5:37 Chính Cha, là Đấng đã sai ta, cũng làm chứng về ta. Các ngươi chưa hề nghe tiếng Ngài, chưa hề thấy mặt Ngài, 5:38 và đạo Ngài không ở trong các ngươi, vì các ngươi không tin Đấng mà Ngài đã sai đến. 5:39 Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. 5:40 Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống! 5:41 Ta chẳng cầu vinh hiển bởi người ta mà đến đâu; 5:42 nhưng ta biết rằng các ngươi chẳng có sự yêu mến Đức Chúa Trời ở trong các ngươi. 5:43 Ta đã nhân danh Cha ta mà đến, các ngươi không nhận lấy ta. Nếu có kẻ khác lấy danh riêng mình mà đến, thì các ngươi sẽ nhận lấy. 5:44 Các ngươi vẫn chịu vinh hiển lẫn của nhau, không tìm kiếm vinh hiển bởi một mình Đức Chúa Trời đến, thì thể nào các ngươi tin được? 5:45 Chớ ngờ rằng ấy là ta sẽ tố cáo các ngươi trước mặt Cha, người sẽ tố cáo các ngươi là Môi-se, làm người mà các ngươi đã trông cậy. 5:46 Vì nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta; bởi ấy là về ta mà người đã chép. 5:47 Nhưng nếu các ngươi chẳng tin những lời người chép, các ngươi há lại tin lời ta sao?
Giăng 6
6:1 Rồi đó, Đức Chúa Jêsus qua bờ bên kia biển Ga-li-lê, là biển Ti-bê-ri-át. 6:2 Một đoàn dân đông theo Ngài, vì từng thấy các phép lạ Ngài làm cho những kẻ bịnh. 6:3 Nhưng Đức Chúa Jêsus lên trên núi, ngồi đó với môn đồ. 6:4 Vả, lễ Vượt Qua, là lễ của dân Giu-đa gần tới. 6:5 Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên, thấy một đoàn dân đông đến cùng mình, bèn phán với Phi-líp rằng: Chúng ta sẽ mua bánh ở đâu, để cho dân nầy có mà ăn? 6:6 Ngài phán điều đó đặng thử Phi-líp, chớ Ngài đã biết điều Ngài sẽ làm rồi. 6:7 Phi-líp thưa rằng: Hai trăm đơ-ni-ê bánh không đủ phát cho mỗi người một ít. 6:8 Một môn đồ, là Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ, thưa rằng: 6:9 Đây có một đứa con trai, có năm cái bánh mạch nha và hai con cá; nhưng đông người dường nầy, thì ngằn ấy có thấm vào đâu? 6:10 Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy truyền cho chúng ngồi xuống. Vả, trong nơi đó có nhiều cỏ. Vậy, chúng ngồi xuống, số người ước được năm ngàn. 6:11 Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bèn phân phát cho những kẻ đã ngồi; Ngài cũng lấy cá phát cho chúng nữa, ai muốn bao nhiêu mặc ý. 6:12 Khi chúng đã ăn được no nê, Ngài phán với môn đồ rằng: Hãy lượm những miếng còn thừa, hầu cho không mất chút nào. 6:13 Vậy, môn đồ lượm những miếng thừa của năm cái bánh mạch nha, sau khi người ta đã ăn rồi, chứa đầy mười hai giỏ. 6:14 Những người đó thấy phép lạ Đức Chúa Jêsus đã làm, thì nói rằng: Người nầy thật là Đấng tiên tri phải đến thế gian. 6:15 Bấy giờ Đức Chúa Jêsus biết chúng có ý đến ép Ngài để tôn làm vua, bèn lui ở một mình trên núi. 6:16 Đến chiều, môn đồ xuống nơi bờ biển, 6:17 và vào trong một chiếc thuyền, sang thẳng bờ bên kia, hướng về thành Ca-bê-na-um. Trời chợt tối, mà Đức Chúa Jêsus còn chưa đến cùng các môn đồ. 6:18 Gió thổi ào ào, đến nỗi biển động dữ dội. 6:19 Khi các môn đồ đã chèo ra độ chừng hai mươi lăm hay là ba mươi ếch-ta-đơ, thấy Đức Chúa Jêsus đi trên mặt biển, gần tới chiếc thuyền, thì sợ hãi. 6:20 Nhưng Ngài phán rằng: Ấy là ta đây, đừng sợ chi! 6:21 Bấy giờ, môn đồ muốn rước Ngài vào thuyền; tức thì chiếc thuyền đậu vào bờ, là nơi định đi. 6:22 Đoàn dân ở bờ biển bên kia, đã nhận rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền, và Đức Chúa Jêsus không vào thuyền với môn đồ Ngài, chỉ một mình môn đồ đi mà thôi. 6:23 Qua ngày sau, có mấy chiếc thuyền khác từ thành Ti-bê-ri-át lại gần nơi chúng đã ăn bánh khi Chúa tạ ơn rồi, 6:24 đoàn dân thấy Đức Chúa Jêsus không ở đó môn đồ cũng không, bèn vào mấy thuyền kia mà đi qua thành Ca-bê-na-um để tìm Đức Chúa Jêsus. 6:25 Chúng vừa tìm được Ngài tại bờ bên kia biển, bèn thưa rằng: Lạy thầy, thầy đến đây bao giờ? 6:26 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi tìm ta chẳng phải vì đã thấy mấy phép lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn bánh và được no. 6:27 Hãy làm việc, chớ vì đồ ăn hay hư nát, nhưng vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời, là thứ Con người sẽ ban cho các ngươi; vì ấy là Con, mà Cha, tức là chính Đức Chúa Trời, đã ghi ấn tín của mình. 6:28 Chúng thưa rằng: Chúng tôi phải làm chi cho được làm công việc Đức Chúa Trời? 6:29 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi tin Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến, ấy đó là công việc Ngài. 6:30 Chúng bèn nói rằng: Thế thì thầy làm phép lạ gì, để cho chúng tôi thấy và tin? Thầy làm công việc gì? 6:31 Tổ phụ chúng ta đã ăn ma-na trong đồng vắng, theo như lời chép rằng: Ngài đã ban cho họ ăn bánh từ trên trời xuống. 6:32 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, Môi-se chưa hề cho các ngươi bánh từ trên trời đâu; nhưng Cha ta ban cho các ngươi bánh thật, là bánh từ trên trời xuống. 6:33 Bởi chưng bánh Đức Chúa Trời là bánh từ trên trời giáng xuống, ban sự sống cho thế gian. 6:34 Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin ban bánh đó cho chúng tôi luôn luôn! 6:35 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát. 6:36 Nhưng ta đã nói: Các ngươi đã thấy ta, mà chẳng tin. 6:37 Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu. 6:38 Vì ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai ta đến. 6:39 Vả, ý muốn của Đấng đã sai ta đến là hễ sự gì Ngài đã ban cho ta, thì ta chớ làm mất, nhưng ta phải làm cho sống lại nơi ngày sau rốt. 6:40 Đây là ý muốn của Cha ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt. 6:41 Nhưng vì Ngài đã phán: Ta là bánh từ trên trời xuống, nên các người Giu-đa lằm bằm về Ngài, 6:42 mà rằng: Ấy chẳng phải là Jêsus, con của Giô-sép, mà chúng ta đều biết cha mẹ người chăng? Vậy, thể nào người nói được rằng: Ta đã từ trên trời mà xuống? 6:43 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi chớ lằm bằm với nhau. 6:44 Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta, và ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt. 6:45 Các sách tiên tri có chép rằng: Ai nấy đều sẽ được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Hễ ai đã nghe Cha và học theo Ngài thì đến cùng ta. 6:46 Ấy chẳng phải kẻ nào đã từng thấy Cha, trừ ra Đấng từ Đức Chúa Trời mà đến; Đấng ấy đã thấy Cha. 6:47 Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ ai tin thì được sự sống đời đời. 6:48 Ta là bánh của sự sống. 6:49 Tổ phụ các ngươi đã ăn ma-na trong đồng vắng, rồi cũng chết. 6:50 Đây là bánh từ trời xuống, hầu cho ai ăn chẳng hề chết. 6:51 Ta là bánh hằng sống từ trên trời xuống; nếu ai ăn bánh ấy, thì sẽ sống vô cùng; và bánh mà ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian tức là thịt ta. 6:52 Bởi đó, các người Giu-đa cãi lẽ với nhau, mà rằng: Lẽ nào người nầy lấy thịt mình cho chúng ta ăn sao? 6:53 Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt của Con người, cùng không uống huyết Ngài, thì chẳng có sự sống trong các ngươi đâu. 6:54 Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại. 6:55 Vì thịt ta thật là đồ ăn, huyết ta thật là đồ uống. 6:56 Người nào ăn thịt ta và uống huyết ta, thì ở trong ta, và ta ở trong người. 6:57 Như Cha, là Đấng hằng sống, đã sai ta đến, và ta sống bởi Cha; cũng một thể ấy, người nào ăn ta, sẽ sống bởi ta vậy. 6:58 Đây là bánh từ trên trời xuống. Bánh đó chẳng phải như ma-na mà tổ phụ các ngươi đã ăn, rồi cũng chết; kẻ nào ăn bánh nầy sẽ sống đời đời. 6:59 Đức Chúa Jêsus phán những điều đó lúc dạy dỗ trong nhà hội tại thành Ca-bê-na-um. 6:60 Có nhiều môn đồ nghe Ngài, thì nói rằng: Lời nầy thật khó; ai nghe được? 6:61 Nhưng Đức Chúa Jêsus tự mình biết môn đồ lằm bằm về việc đó, bèn phán rằng: Điều đó xui các ngươi vấp phạm sao? 6:62 Vậy, nếu các ngươi thấy Con người lên nơi Ngài vốn ở khi trước thì thể nào? 6:63 Ấy là thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống. 6:64 Song trong vòng các ngươi có kẻ không tin. Vì Đức Chúa Jêsus biết từ ban đầu, ai là kẻ không tin, ai là kẻ sẽ phản Ngài. 6:65 Ngài lại phán rằng: Chính vì cớ đó, mà ta đã nói cùng các ngươi rằng nếu Cha chẳng ban cho, thì chẳng ai tới cùng ta được. 6:66 Từ lúc ấy, có nhiều môn đồ Ngài trở lui, không đi với Ngài nữa. 6:67 Đức Chúa Jêsus phán cùng mười hai sứ đồ rằng: Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng? 6:68 Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời; 6:69 chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Chúa là Đấng thánh của Đức Chúa Trời. 6:70 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ! 6:71 Vả, Ngài nói về Giu-đa con Si-môn Ích-ca-ri-ốt; vì chính hắn là một trong mười hai sứ đồ, sau sẽ phản Ngài.
Giăng 7
7:1 Kế đó, Đức Chúa Jêsus đi khắp xứ Ga-li-lê. Ngài không ưng đi trong xứ Giu-đê, bởi dân Giu-đa vẫn tìm phương giết Ngài. 7:2 Vả, ngày lễ của dân Giu-đa, gọi là lễ Lều Tạm gần đến. 7:3 Anh em Ngài nói rằng: Hãy đi khỏi đây, và qua xứ Giu-đê, để cho các môn đồ cũng được xem công việc thầy làm. 7:4 Khi nào người ta muốn tỏ mình ra, thì không ai làm kín giấu việc gì. Vì thầy làm những sự đó, hãy tỏ mình cho thiên hạ. 7:5 Bởi chưng chính các anh em Ngài không tin Ngài. 7:6 Đức Chúa Jêsus phán cùng anh em rằng: Thì giờ ta chưa đến; còn về các ngươi, thì giờ được tiện luôn luôn. 7:7 Thế gian chẳng ghét các ngươi được; nhưng ghét ta, vì ta làm chứng nầy về họ rằng công việc họ là ác. 7:8 Các ngươi hãy lên dự lễ nầy, còn ta chưa lên dự lễ đó, vì thì giờ ta chưa trọn. 7:9 Ngài nói xong, cứ ở lại xứ Ga-li-lê. 7:10 Lúc anh em Ngài đã lên dự lễ rồi, thì Ngài cũng lên, nhưng đi cách kín giấu, không tố lộ. 7:11 Vậy, các người Giu-đa tìm Ngài trong ngày lễ, và nói rằng: Nào người ở đâu? 7:12 Trong đám đông có tiếng xôn xao bàn về Ngài. Người thì nói: Ấy là một người lành; kẻ thì nói: Không phải; người phỉnh dỗ dân chúng! 7:13 Song chẳng ai dám nói về Ngài tỏ tường, vì sợ dân Giu-đa. 7:14 Giữa kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus lên đền thờ dạy dỗ. 7:15 Các người Giu-đa sững sờ mà nói rằng: Người nầy chưa từng học, làm sao biết được Kinh Thánh? 7:16 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Đạo lý của ta chẳng phải bởi ta, nhưng bởi Đấng đã sai ta đến. 7:17 Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý ta có phải là bởi Đức Chúa Trời, hay là ta nói theo ý ta. 7:18 Kẻ nói theo ý mình, thì tìm vinh hiển riêng mình; nhưng kẻ tìm vinh hiển của Đấng đã sai mình đến, mới là chân thật, và chắc trong mình không có điều gì không công bình đâu. 7:19 Môi-se há chẳng ban luật pháp cho các ngươi sao? Mà trong các ngươi không có một ai tuân theo luật pháp! Cớ sao các ngươi kiếm thế giết ta? 7:20 Dân chúng trả lời rằng: Ngươi bị quỉ ám, nào ai là người tìm thế giết ngươi? 7:21 Đức Chúa Jêsus đáp lại rằng: Ta đã làm một việc, các ngươi thảy đều lấy làm lạ. 7:22 Môi-se đã truyền phép cắt bì cho các ngươi (phép đó không phải bởi Môi-se, nhưng bởi tổ tông), và các ngươi làm phép cắt bì cho người đàn ông trong ngày Sa-bát! 7:23 Nếu người đàn ông chịu phép cắt bì ngày Sa-bát, cho khỏi phạm luật pháp Môi-se, thì sao ta chữa cho cả mình người bịnh được lành trong ngày Sa-bát, mà các ngươi lại nổi giận? 7:24 Đừng cứ bề ngoài mà xét đoán, nhưng phải xét đoán theo lẽ công bình. 7:25 Có mấy kẻ trong dân thành Giê-ru-sa-lem nói rằng: Đó có phải là người mà người ta tìm giết chăng? 7:26 Kìa, người nói tự do, mà không ai nói chi người hết. Dễ thường các quan đã nhận thật người là Đấng Christ? 7:27 Thế mà, chúng ta biết người nầy từ đâu lại; song khi Đấng Christ sẽ đến, thì không ai biết Ngài từ đâu đến. 7:28 Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus đang dạy trong đền thờ, thì kêu lên rằng: Các ngươi quen ta, các ngươi biết ta từ đâu lại! Ta đã đến chẳng phải tự ta, nhưng Đấng đã sai ta đến là thật, mà các ngươi không biết Ngài. 7:29 Ta thì biết Ngài; vì ta từ Ngài đến, và Ngài là Đấng đã sai ta đến. 7:30 Vậy, họ kiếm thế bắt Ngài; nhưng không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến. 7:31 Song trong vòng dân chúng nhiều kẻ tin Ngài, nói rằng: Khi Đấng Christ đến, sẽ có làm nhiều phép lạ hơn người nầy đã làm chăng? 7:32 Người Pha-ri-si nghe lời đoàn dân nghị luận về Ngài, thì mấy thầy tế lễ cả đồng tình với họ, cắt lính đi bắt Ngài. 7:33 Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta còn ở với các ngươi ít lâu nữa; rồi ta đi về cùng Đấng sai ta đến. 7:34 Các ngươi sẽ kiếm ta mà chẳng thấy, và nơi ta ở, các ngươi không thể đến được. 7:35 Các người Giu-đa nói với nhau rằng: Thế thì người sẽ đi đâu mà ta không tìm được? Có phải người sẽ đi đến cùng những kẻ lưu lạc trong dân Gờ-réc và dạy dân Gờ-réc chăng? 7:36 Người đã nói rằng: Các ngươi sẽ tìm ta, mà chẳng thấy, và nơi ta ở, các ngươi không thể đến được, ấy là nghĩa làm sao? 7:37 Ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống. 7:38 Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy. 7:39 Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Đức Thánh Linh chưa ban xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển. 7:40 Trong đoàn dân có nhiều người nghe những lời đó, thì nói: Người nầy thật là đấng tiên tri. Người khác thì nói: Ấy là Đấng Christ. 7:41 Người khác nữa lại nói: Đấng Christ há từ Ga-li-lê mà đến sao? 7:42 Kinh Thánh há chẳng nói rằng Đấng Christ phải ra từ dòng dõi vua Đa-vít sao? 7:43 Vậy, dân chúng cãi lẽ nhau về Ngài. 7:44 Có mấy kẻ trong đám dân muốn bắt Ngài, nhưng không ai đặt tay trên mình Ngài. 7:45 Vậy bọn lính trở về cùng các thầy tế lễ cả và các người Pha-ri-si. Những người nầy hỏi họ rằng: Sao các ngươi không điệu người đến? 7:46 Bọn lính thưa rằng: Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy! 7:47 Những người Pha-ri-si nói rằng: Các ngươi cũng đã bị phỉnh dỗ sao? 7:48 Có một người nào trong các quan hay là trong những người Pha-ri-si tin đến người đó chăng? 7:49 Song lũ dân nầy không biết luật chi cả, thật là dân đáng rủa!7:50 Ni-cô-đem (là người trước có đến cùng Đức Chúa Jêsus và là một người trong đám họ) nói rằng: 7:51 Luật chúng ta há bắt tội một người nào chưa tra hỏi đến, và chưa biết điều người ấy đã làm, hay sao? 7:52 Họ trả lời rằng: Ngươi cũng là người Ga-li-lê sao? Ngươi hãy tra xét, sẽ thấy rằng chẳng có tiên tri nào từ xứ Ga-li-lê mà ra hết. 7:53 [Ai nấy đều trở về nhà mình.
Giăng 8
8:1 Đức Chúa Jêsus lên trên núi ô-li-ve. 8:2 Nhưng đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ; cả dân sự đều đến cùng Ngài, Ngài bèn ngồi dạy dỗ họ. 8:3 Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ri-si dẫn lại cho Ngài một người đàn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người giữa đám đông, 8:4 mà nói cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm. 8:5 Vả, trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; còn thầy, thì nghĩ sao? 8:6 Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất. 8:7 Vì họ cứ hỏi nữa, thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người. 8:8 Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất. 8:9 Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước; Đ Chúa Jêsus ở lại mộttt mình với người đàn bà, người vẫn đang đứng chính giữa đó. 8:10 Đức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đàn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao? 8:11 Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội người; hãy đi, đừng phạm tội nữa.] 8:12 Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống. 8:13 Người Pha-ri-si bèn nói rằng: Thầy tự làm chứng về mình, thì lời chứng thầy không đáng tin. 8:14 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Dẫu ta tự làm chứng về mình, nhưng lời chứng ta là đáng tin, vì ta biết mình đã từ đâu đến và đi đâu; song các ngươi không biết ta từ đâu mà đến, cũng chẳng hay ta đi đâu. 8:15 Các ngươi xét đoán theo xác thịt; ta thì không xét đoán người nào hết. 8:16 Nếu ta xét đoán ai, sự xét đoán của ta đúng với lẽ thật; vì ta không ở một mình, nhưng Cha là Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta. 8:17 Vả, có chép trong luật pháp của các ngươi rằng lời chứng hai người là đáng tin: 8:18 ta tự làm chứng cho ta, và Cha là Đấng đã sai ta đến cũng làm chứng cho ta. 8:19 Chúng thưa cùng Ngài rằng: Cha của thầy ở đâu? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi chẳng biết ta, và cũng chẳng biết Cha ta. Nếu các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta nữa. 8:20 Đức Chúa Jêsus phán mọi lời đó tại nơi Kho, đang khi dạy dỗ trong đền thờ; và không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến. 8:21 Ngài lại phán cùng chúng rằng: Ta đi, các ngươi sẽ tìm ta, và các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình. Các ngươi không thể đến được nơi ta đi. 8:22 Người Giu-đa bèn nói rằng: Người đã nói: Các ngươi không thể đến được nơi ta đi, vậy người sẽ tự tử sao? 8:23 Ngài phán rằng: Các ngươi bởi dưới mà có; còn ta bởi trên mà có. Các ngươi thuộc về thế gian nầy; còn ta không thuộc về thế gian nầy. 8:24 Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi. 8:25 Chúng bèn hỏi Ngài rằng: Vậy thầy là ai? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Như lời ta đã nói với các ngươi từ ban đầu. 8:26 Ta có người sự nói và đoán xét về các ngươi; nhưng Đấng đã sai ta đến là thật, và điều chi ta nghe bởi Ngài, ta truyền lại cho thế gian. 8:27 Chúng không hiểu rằng Ngài phán về Cha. 8:28 Vậy Đức Chúa Jêsus phán rằng: Khi các ngươi treo Con người lên, bấy giờ sẽ biết ta là ai, và biết ta không tự mình làm điều gì, nhưng nói điều Cha ta đã dạy ta. 8:29 Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình, vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài. 8:30 Bởi Đức Chúa Jêsus nói như vậy, nên có nhiều kẻ tin Ngài. 8:31 Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu-đa đã tin Ngài, rằng: Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta; 8:32 các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi. 8:33 Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do? 8:34 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi. 8:35 Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở đó luôn. 8:36 Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do. 8:37 Ta biết rằng các ngươi là dòng dõi Áp-ra-ham, nhưng các ngươi tìm thế để giết ta, vì đạo ta không được chỗ nào ở trong lòng các ngươi. 8:38 Ta nói điều ta đã thấy nơi Cha ta; còn các ngươi cứ làm điều đã học nơi cha mình. 8:39 Chúng trả lời rằng: Cha chúng tôi tức là Áp-ra-ham, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi là con Áp-ra-ham, thì chắc sẽ làm công việc của Áp-ra-ham. 8:40 Nhưng hiện nay, các ngươi tìm mưu giết ta, là người lấy lẽ thật đã nghe nơi Đức Chúa Trời mà nói với các ngươi; Áp-ra-ham chưa hề làm điều đó! 8:41 Các ngươi làm công việc của cha mình. Chúng nói rằng: Chúng tôi chẳng phải là con ngoại tình; chúng tôi chỉ có một Cha, là Đức Chúa Trời. 8:42 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ví bằng Đức Chúa Trời là Cha các ngươi, thì các ngươi sẽ yêu ta, vì ta bởi Đức Chúa Trời mà ra và từ Ngài mà đến; bởi chưng ta chẳng phải đã đến tự mình đâu, nhưng ấy chính Ngài đã sai ta đến. 8:43 Tại sao các ngươi không hiểu lời ta? Ấy là bởi các ngươi chẳng có thể nghe được đạo của ta. 8:44 Các ngươi bởi cha mình, là ma quỉ, mà sanh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, vì không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối. 8:45 Nhưng vì ta nói lẽ thật, nên các ngươi không tin ta. 8:46 Trong các ngươi có ai bắt ta thú tội được chăng? Nếu ta nói lẽ thật, sao các ngươi không tin ta? 8:47 Ai ra bởi Đức Chúa Trời, thì nghe lời Đức Chúa Trời; cho nên các ngươi chẳng nghe, tại các ngươi không thuộc về Đức Chúa Trời. 8:48 Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi nói thầy là người Sa-ma-ri, và bị quỉ ám, há không phải sao? 8:49 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta chẳng phải bị quỉ ám, nhưng ta tôn kính Cha ta, còn các ngươi làm nhục ta. 8:50 Ta chẳng tìm sự vinh hiển ta, có một Đấng tìm và đoán xét. 8:51 Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ. 8:52 Người Giu-đa nói rằng: Bây giờ chúng tôi thấy rõ thầy bị quỉ ám; Áp-ra-ham đã chết, các đấng tiên tri cũng vậy, mà thầy nói: Nếu kẻ nào giữ lời ta sẽ chẳng hề chết! 8:53 Thầy lại trọng hơn cha chúng tôi, Áp-ra-ham, là người đã chết sao? Các đấng tiên tri cũng đã chết; thầy mạo xưng mình là ai? 8:54 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu ta tự tôn vinh, thì sự vinh hiển ta chẳng ra gì; ấy là Cha ta làm vinh hiển ta, là Đấng các ngươi xưng là Đức Chúa Trời của mình. 8:55 Dầu vậy, các ngươi chưa biết Ngài đâu; còn ta thì biết. Và nếu ta nói rằng ta không biết Ngài, ta sẽ cũng nói dối như các ngươi vậy; song ta biết Ngài, và ta giữ lời Ngài. 8:56 Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ. 8:57 Người Giu-đa nói rằng: Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Áp-ra-ham! 8:58 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta. 8:59 Bấy giờ chúng lấy đá đặng quăng vào Ngài; nhưng Đức Chúa Jêsus đi lén trong chúng, ra khỏi đền thờ.
Giăng 9
9:1 Đức Chúa Jêsus vừa đi qua, thấy một người mù từ thuở sanh ra. 9:2 Môn đồ hỏi Ngài rằng: Thưa thầy ai đã phạm tội, người hay là cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù như vậy? 9:3 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Đó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ đã phạm tội; nhưng ấy để cho những việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người. 9:4 Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được. 9:5 Đang khi ta còn ở thế gian, ta là sự sáng của thế gian. 9:6 Nói xong Ngài nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, và đem xức trên mắt người mù. 9:7 Đoạn Ngài phán cùng người rằng: Hãy đi, rửa nơi ao Si-lô-ê (nghĩa là chịu sai đi). Vậy, người đi đến ao đó, rửa, và trở lại, thì được thấy rõ. 9:8 Xóm giềng người mù và những kẻ trước kia từng thấy người đi ăn mày đều nói rằng: nầy có phải là người vẫn ngồi ăn xin đó chăng? 9:9 Người thì nói: Ấy là hắn; kẻ lại nói: Không phải, song một người nào giống hắn. Người mù nói rằng: Chính tôi đây. 9:10 Chúng bèn hỏi người rằng: Tại sao mắt ngươi đã mở được? 9:11 Người trả lời rằng: Người tên gọi là Jêsus kia đã hòa bùn, xức mắt tôi, và nói tôi rằng: hãy đi đến rửa nơi ao Si-lô-ê. Vậy, tôi đi đến, rửa tại đó, rồi thấy được. 9:12 Chúng hỏi rằng: Người ấy ở đâu. Người trả lời rằng: Tôi không biết. 9:13 Chúng dẫn người trước đã mù đó đến cùng người Pha-ri-si. 9:14 Vả, ấy là ngày Sa-bát mà Đức Chúa Jêsus đã hòa bùn và mở mắt cho người đó. 9:15 Người Pha-ri-si lại hỏi người thế nào được sáng mắt lại. Người rằng: Người ấy rà bùn vào mắt tôi, tôi rửa rồi thấy được. 9:16 Có mấy kẻ trong những người Pha-ri-si bèn nói rằng: Người nầy không phải từ Đức Chúa Trời đến đâu vì không giữ ngày Sa-bát. Nhưng kẻ khác rằng: Một kẻ có tội làm phép lạ như vậy thể nào được? Rồi họ bèn chia phe ra. 9:17 Bấy giờ chúng hỏi người mù nữa rằng: Còn ngươi, về người đã làm sáng mắt ngươi đó thì ngươi nói làm sao? Người trả lời rằng: Ấy là một đấng tiên tri. 9:18 Song le, người Giu-đa không tin rằng người ấy trước đã mù mà được sáng lại, cho đến khi gọi cha mẹ người đến. 9:19 Họ gạn hỏi rằng: Đây có quả thật là con trai các ngươi mà các ngươi nói rằng nó mù từ thuở sanh ra chăng? Thế thì sao bây giờ nó sáng vậy? 9:20 Cha mẹ người trả lời rằng: Chúng tôi nhìn biết là con trai chúng tôi đó đã mù từ thuở sanh ra; 9:21 nhưng hiện nay tại làm sao thấy được, thì chúng tôi không rõ. Chúng tôi cũng không biết ai mở mắt nó nữa. Hãy hỏi nó, nó đã đủ tuổi, chính nó sẽ nói cho. 9:22 Cha mẹ người nói vậy, vì sợ dân Giu-đa; bởi dân Giu-đa đã định rằng hễ ai xưng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ thì phải bị đuổi ra khỏi nhà hội. 9:23 Ấy vì cớ đó nên cha mẹ người nói rằng: Nó đã đủ tuổi, hãy hỏi nói. 9:24 Vậy, người Pha-ri-si gọi người trước đã mù một lần nữa, mà nói rằng: Hãy ngợi khen Đức Chúa Trời, chúng ta biết người đó là kẻ có tội. 9:25 Người trả lời rằng: Tôi chẳng biết người có phải là kẻ có tội chăng, chỉ biết một điều, là tôi đã mù mà bây giờ lại sáng. 9:26 Họ lại hỏi rằng: Người đã làm điều gì cho ngươi? Mở mắt ngươi thể nào? 9:27 Người trả lời rằng: Tôi đã nói với các ông rồi, mà các ông chẳng nghe tôi. Cớ sao các ông muốn nghe lại lần nữa? Há cũng muốn làm môn đồ người chăng? 9:28 Họ bèn mắng nhiếc người, mà rằng: Ấy, chính ngươi là môn đồ người; còn chúng ta là môn đồ của Môi-se. 9:29 Chúng ta biết Đức Chúa Trời đã phán cùng Môi-se, nhưng người này thì chúng ta chẳng biết bởi đâu đến. 9:30 Người trả lời rằng: Người đã mở mắt tôi, mà các ông chẳng biết người bởi đâu đến, ấy là sự lạ lắm! 9:31 Chúng ta vẫn biết Đức Chúa Trời chẳng nhậm lời kẻ có tội, mà nếu ai kính sợ Đức Chúa Trời, làm theo ý muốn Ngài, thì Ngài nhậm lời. 9:32 Người ta chẳng bao giờ nghe nói có ai mở mắt kẻ mù từ thuở sanh ra. 9:33 Nếu người này chẳng phải đến từ Đức Chúa Trời, thì không làm gì được hết. 9:34 Chúng trả lời rằng: Cả mình ngươi sanh ra trong tội lỗi, lại muốn dạy dỗ chúng ta sao! Đoạn họ đuổi người ra ngoài. 9:35 Đức Chúa Jêsus nghe họ đã đuổi người ra và Ngài có gặp người, bèn phán hỏi rằng: Ngươi có tin đến Con Đức Chúa Trời chăng? 9:36 Người thưa rằng: Thưa Chúa người là ai hầu cho tôi tin đến? 9:37 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ngươi đã thấy người và ấy là chính người đang nói cùng ngươi. 9:38 Người thưa rằng: Lạy Chúa, tôi tin; bèn sấp mình xuống trước mặt Ngài. 9:39 Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã đến thế gian đặng làm sự phán xét nầy: Hễ ai chẳng thấy, thì thấy; còn ai thấy, lại hóa mù. 9:40 Mấy người Pha-ri-si bên cạnh Ngài nghe điều đó, thì nói với Ngài rằng: Còn chúng ta cũng là kẻ mù chăng?9:41 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu các ngươi là kẻ mù, thì không có tội lỗi chi hết; nhưng vì các ngươi nói rằng: Chúng ta thấy, nên tội lỗi các ngươi vẫn còn lại.
Giăng 10
10:1 Quả thật, quả thật, ta
nói cùng các ngươi, kẻ nào chẳng bởi cửa mà
vào chuồng chiên, nhưng trèo vào từ nơi khác, thì
người đó là trộm cướp. 10:2 Nhưng kẻ
bởi cửa mà vào, là người chăn chiên. 10:3 Người
canh cửa mở cho chiên nghe tiếng người chăn;
người chăn kêu tên chiên mình mà dẫn ra ngoài. 10:4 Khi
người đã đem chiên ra hết, thì đi trước,
chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người. 10:5 Nhưng
chiên chẳng theo người lạ; trái lại nó chạy
trốn, vì chẳng quen tiếng người lạ. 10:6
Đức Chúa Jêsus phán lời ví dụ đó, nhưng chúng
không hiểu Ngài muốn nói chi. 10:7 Đức Chúa Jêsus lại
phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta
nói cùng các ngươi, ta là cửa của chiên. 10:8 Hết thảy
những kẻ đã đến trước ta đều
là quân trộm cướp; nhưng chiên không nghe chúng nó. 10:9
Ta là cái cửa: nếu ai bởi ta mà vào, thì sẽ
được cứu rỗi; họ sẽ vào ra và gặp
đồng cỏ.
Giăng 11
11:1 Có một người đau, tên là
La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni, là làng của Ma-ri và chị người
là Ma-thê. 11:2 Ma-ri là người đã xức dầu thơm
cho Chúa, và lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người là
La-xa-rơ đang đau. 11:3 Vậy, hai chị em sai người
đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy
Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh. 11:4 Đức
Chúa Jêsus vừa nghe lời đó, bèn phán rằng: Bịnh nầy
không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển
của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa
Trời bởi đó được sáng danh. 11:5 Vả,
Đức Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người và La-xa-rơ.
11:6 Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn ở lại
hai ngày nữa trong nơi Ngài đang ở. 11:7 Rồi
đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy trở về
xứ Giu-đê. 11:8 Môn đồ thưa rằng: Thưa thầy,
hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn
trở lại nơi họ sao! 11:9 Đức Chúa Jêsus
đáp rằng: Trong ban ngày há chẳng phải có mười
hai giờ sao? nếu ai đi ban ngày, thì không vấp vì thấy
sự sáng của thế gian nầy.
Giăng 12
12:1 Sáu ngày trước lễ Vượt
Qua, Đức Chúa Jêsus đến thành Bê-tha-ni, nơi
La-xa-rơ ở, là người Ngài đã khiến sống
lại từ kẻ chết. 12:2 Người ta đãi tiệc
Ngài tại đó, và Ma-thê hầu hạ; La-xa-rơ là một
người trong đám ngồi đồng bàn với Ngài.
12:3 Bấy giờ, Ma-ri lấy một cân dầu cam tùng
hương thật, rất quí giá, xức chân Đức
Chúa Jêsus, và lấy tóc mình mà lau; cả nhà thơm nức mùi
dầu đó. 12:4 Nhưng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là một
môn đồ về sau phản Ngài, nói rằng: 12:5 Sao không
bán dầu thơm đó lấy ba trăm đơ-ni-ê đặng
bố thí cho kẻ nghèo? 12:6 Người nói vậy, chẳng
phải lo cho kẻ nghèo đâu, song vì người vốn
là tay trộm cắp, và giữ túi bạc, trộm lấy của
người ta để ở trong. 12:7 Đức Chúa Jêsus
đáp rằng: Hãy để mặc người, người
đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn xác ta.
12:8 Vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở với
mình, còn ta, các ngươi không có ta luôn luôn. 12:9 Một bọn
người Giu-đa nghe Đức Chúa Jêsus có tại
đó, bèn đến, chẳng những vì Ngài thôi, lại
cũng để xem La-xa-rơ, là người Ngài đã khiến
từ kẻ chết sống lại.
Giăng 13
13:1 Trước ngày lễ Vượt
Qua, Đức Chúa Jêsus biết giờ mình phải lìa thế
gian đặng trở về cùng Đức Chúa Cha đến
rồi; Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế
gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng. 13:2 Đang bữa
ăn tối (ma quỉ đã để mưu phản Ngài
vào lòng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt con trai Si-môn), 13:3 Đức
Chúa Jêsus biết rằng Cha đã giao phó mọi sự trong
tay mình, và mình sẽ về với Đức Chúa Trời,
13:4 nên đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ra, lấy
khăn vấn ngang lưng mình. 13:5 Kế đó, Ngài đổ
Nước vào chậu, và rửa chân cho môn đồ, lại
lấy khăn mình đã vấn mà lau chân cho. 13:6 Vậy,
Ngài đến cùng Si-môn Phi-e-rơ, thì người thưa rằng:
Chúa ôi, chính Chúa lại rửa chân cho tôi sao! 13:7 Đức
Chúa Jêsus đáp rằng: Hiện nay ngươi chẳng biết
sự ta làm; nhưng về sau sẽ biết. 13:8
Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa sẽ chẳng rửa chân
tôi bao giờ! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu ta
không rửa cho ngươi, ngươi chẳng có phần
chi với ta hết. 13:9 Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy
Chúa, chẳng những rửa chân mà thôi, lại cũng rửa
tay và đầu nữa!
Giăng 14
14:1 Lòng các ngươi chớ hề bối
rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa.
14:2 Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng
vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm
sẵn cho các ngươi một chỗ. 14:3 Khi ta đã
đi, và sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi,
ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với
ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở
đó. 14:4 Các ngươi biết ta đi đâu, và biết
đường đi nữa. 14:5 Thô-ma thưa rằng: Lạy
Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu; làm sao biết
đường được? 14:6 Vậy Đức Chúa
Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật,
và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được
đến cùng Cha. 14:7 Ví bằng các ngươi biết ta,
thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi
biết và đã thấy Ngài. 14:8 Phi-líp thưa rằng: Lạy
Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ rồi. 14:9 Đức
Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi Phi-líp, ta ở cùng các
ngươi đã lâu thay, mà ngươi chưa biết ta!
Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha. Sao
ngươi lại nói rằng: Xin chỉ Cha cho chúng tôi?
Giăng 15
15:1 Ta là gốc nho thật, Cha ta là
người trồng nho. 15:2 Hễ nhánh nào trong ta mà không kết
quả thì Ngài chặt hết; và Ngài tỉa sửa những
nhánh nào kết quả, để được sai trái
hơn. 15:3 Các ngươi đã được trong sạch,
vì lời ta đã bảo cho. 15:4 Hãy cứ ở trong ta, thì
ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho, nếu
không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả
được, cũng một lẽ ấy, nếu các
ngươi chẳng cứ ở trong ta, thì cũng không kết
quả được. 15:5 Ta là gốc nho, các ngươi
là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm
trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được.
15:6 Nếu ai chẳng cứ trong ta thì phải ném ra ngoài,
cũng như nhánh nho; nhánh khô đi, người ta lượm
lấy, quăng vào lửa, thì nó cháy. 15:7 Ví bằng các
ngươi cứ ở trong ta, và những lời ta ở
trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn,
thì sẽ được điều đó. 15:8 Nầy, Cha
ta sẽ được sáng danh là thể nào: ấy là các
ngươi được kết nhiều quả, thì sẽ
làm môn đồ của ta vậy. 15:9 Như Cha đã yêu
thương ta thể nào, ta cũng yêu thương các
ngươi thể ấy; hãy cứ ở trong sự yêu
thương của ta.
Giăng 16
16:1 Ta bảo các ngươi những
điều đó, để cho các ngươi khỏi vấp
phạm. 16:2 Họ sẽ đuổi các ngươi ra khỏi
nhà hội; vả lại, giờ đến, khi ai giết
các ngươi, tưởng rằng thế là hầu việc
Đức Chúa Trời. 16:3 Họ sẽ làm điều
đó, vì không biết Cha, cũng không biết ta nữa. 16:4
Nhưng ta đã bảo những điều đó cho các
ngươi, để khi giờ sẽ đến, các
ngươi nhớ lại rằng ta đã nói những
điều đó rồi. Từ lúc ban đầu ta chưa
nói cho các ngươi, vì ta đang ở cùng các ngươi.
16:5 Hiện nay ta về cùng Đấng đã sai ta đến,
và trong các ngươi chẳng một ai hỏi ta rằng:
Thầy đi đâu? 16:6 Nhưng vì ta đã nói những
điều đó cho các ngươi, thì lòng các ngươi chứa
chan sự phiền não. 16:7 Dầu vậy, ta nói thật cùng
các ngươi: Ta đi là ích lợi chocác ngươi; vì nếu
ta không đi, Đấng Yên ủi sẽ không đến
cùng các ngươi đâu; song nếu ta đi, thì ta sẽ
sai Ngài đến. 16:8 Khi Ngài đến thì sẽ khiến
thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự
công bình và về sự phán xét. 16:9 Về tội lỗi, vì
họ không tin ta;
Giăng 17
17:1 Đức Chúa Jêsus phán như vậy,
đoạn, ngước mắt lên trời mà rằng:
Thưa Cha, giờ đã đến; xin làm vinh hiển Con, hầu
cho Con cũng làm vinh hiển Cha, 17:2 và nhân quyền phép Cha
đã ban cho Con cai trị loài xác thịt, Con được
ban sự sống đời đời cho những kẻ
mà Cha đã giao phó cho Con. 17:3 Vả, sự sống đời
đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời
có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Đấng Cha đã
sai đến. 17:4 Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong
công việc Cha giao cho làm. 17:5 Cha ôi! bây giờ xin lấy sự
vinh hiển Con vốn có nơi Cha trước khi chưa có
thế gian mà làm vinh hiển Con nơi chính mình Cha. 17:6 Con
đã tỏ danh Cha ra cho những người Cha giao cho Con
từ giữa thế gian; họ vốn thuộc về
Cha, Cha giao họ cho Con, và họ đã giữ lời Cha.
17:7 Hiện nay họ đã biết rằng mọi sự
Cha đã giao cho Con đều là từ Cha mà đến. 17:8
Vì Con đã truyền cho họ những lời Cha đã truyền
cho Con, và họ đã nhận lấy; nhìn biết quả thật
rằng Con đến từ nơi Cha, và tin rằng ấy
là Cha sai Con đến. 17:9 Con vì họ mà cầu nguyện;
chẳng phải vì thế gian mà cầu nguyện, nhưng
vì kẻ Cha đã giao cho Con, bởi chưng họ thuộc
về Cha.
Giăng 18
18:1 Sau khi phán những điều ấy,
Đức Chúa Jêsus đi với môn đồ mình sang bên kia
khe Xết-rôn; tại đó có một cái vườn, Ngài bèn
vào, môn đồ cũng vậy. 18:2 Vả, Giu-đa là kẻ
phản Ngài, cũng biết chỗ nầy, vì Đức
Chúa Jêsus thường cùng môn đồ nhóm họp tại
đó. 18:3 Vậy, Giu-đa lãnh một cơ binh cùng những
kẻ bởi các thầy tế lễ cả và người
Pha-ri-si sai đến, cầm đèn đuốc khí giới
vào nơi đó. 18:4 Đức Chúa Jêsus biết mọi
điều sẽ xảy đến cho mình, bèn bước
tới mà hỏi rằng: Các ngươi tìm ai? 18:5 Chúng trả
lời rằng: Tìm Jêsus người Na-xa-rét. Đức Chúa
Jêsus phán rằng: Chính ta đây! Giu-đa là kẻ phản
Ngài cũng đứng đó với họ. 18:6 Vừa khi
Đức Chúa Jêsus phán: Chính ta đây, chúng bèn thối lui và
té xuống đất. 18:7 Ngài lại hỏi một lần
nữa: Các ngươi tìm ai? Chúng trả lời rằng:
Tìm Jêsus người Na-xa-rét. 18:8 Đức Chúa Jêsus lại
phán: Ta đã nói với các ngươi rằng chính ta
đây; vậy nếu các ngươi tìm bắt ta, thì hãy
để cho những kẻ nầy đi. 18:9 Ấy để
được ứng nghiệm lời Ngài đã phán: Con chẳng
làm mất một người nào trong những kẻ mà Cha
đã giao cho Con. 18:10 Bấy giờ, Si-môn Phi-e-rơ có một
thanh gươm, bèn rút ra, đánh đầy tớ của
thầy cả thượng phẩm, chém đứt tai bên hữu.
Đầy tớ đó tên là Man-chu.
Giăng 19
19:1 Bấy giờ, Phi-lát bắt Đức
Chúa Jêsus và sai đánh đòn Ngài. 19:2 Bọn lính
đương một cái mão triều bằng gai, đội
trên đầu Ngài, và mặc cho Ngài một cái áo điều.
19:3 Đoạn, họ đến gần, nói với Ngài rằng:
Lạy Vua dân Giu-đa! Họ lại cho Ngài mấy cái vả.
19:4 Phi-lát ra một lần nữa, mà nói với chúng rằng:
Đây nầy, ta dẫn người ra ngoài, để các
ngươi biết rằng ta không tìm thấy người
có tội lỗi chi. 19:5 Vậy, Đức Chúa Jêsus đi
ra, đầu đội mão triều gai, mình mặc áo
điều; và Phi-lát nói cùng chúng rằng: Kìa, xem người
nầy! 19:6 Nhưng khi các thầy tế lễ cả và các
kẻ sai thấy Ngài, thì kêu lên rằng: Hãy đóng đinh hắn
trên cây thập tự, hãy đóng đinh hắn trên cây thập
tự! Phi-lát nói cùng chúng rằng: Chính mình các ngươi hãy
bắt mà đóng đinh người; bởi vì về phần
ta không thấy người có tội lỗi chi hết. 19:7
Dân Giu-đa lại nói rằng: Chúng tôi có luật, chiếu
luật đó hắn phải chết; vì hớn tự
xưng là Con Đức Chúa Trời. 19:8 Khi Phi-lát đã nghe
lời đó, lại càng thêm sợ hãi. 19:9 Người lại
trở vào nơi trường án mà nói với Đức
Chúa Jêsus rằng: Ngươi từ đâu? Nhưng Đức
Chúa Jêsus không đáp gì hết.
Giăng 20
20:1 Ngày thứ nhất trong tuần lễ,
lúc rạng đông, trời còn mờ mờ, Ma-ri
Ma-đơ-len tới mộ, thấy hòn đá lấp cửa
mộ đã dời đi. 20:2 Vậy, người chạy
tìm Si-môn Phi-e-rơ và môn đồ khác, là người Đức
Chúa Jêsus yêu, mà nói rằng: Người ta đã dời Chúa
khỏi mộ, chẳng hay để Ngài tại đâu.
20:3 Phi-e-rơ với môn đồ khác bèn bước ra,
đi đến mồ. 20:4 Cả hai đều chạy,
nhưng môn đồ kia chạy mau hơn Phi-e-rơ, và
đến mồ trước. 20:5 Người cúi xuống,
thấy vải bỏ dưới đất; nhưng không
vào. 20:6 Si-môn Phi-e-rơ theo đến, vào trong mộ, thấy
vải bỏ dưới đất, 20:7 và cái khăn liệm
trùm đầu Đức Chúa Jêsus chẳng cùng một chỗ
với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một
nơi khác. 20:8 Bấy giờ, môn đồ kia đã đến
mộ trước, cũng bước vào, thì thấy và
tin. 20:9 Vì chưng hai người chưa hiểu lời Kinh
Thánh rằng Đức Chúa Jêsus phải từ kẻ chết
sống lại.
Giăng 21
21:1 Rồi đó, Đức Chúa Jêsus lại
hiện ra cùng môn đồ nơi gần biển Ti-bê-ri-át.
Việc Ngài hiện ra như vầy: 21:2 Si-môn Phi-e-rơ,
Thô-ma gọi là Đi-đim, Na-tha-na-ên nguyên ở thành Ca-na
trong xứ Ga-li-lê các con trai của Xê-bê-đê và hai người
môn đồ khác nữa nhóm lại cùng nhau. 21:3 Si-môn
Phi-e-rơ nói rằng: Tôi đi đánh cá. Các người
kia trả lời rằng: Chúng tôi đi với anh. Các
người ấy ra đi xuống thuyền, nhưng trong
đêm đó, chẳng được chi hết. 21:4 Đến
sáng, Đức Chúa Jêsus đứng trên bờ, nhưng môn
đồ không biết đó là Đức Chúa Jêsus. 21:5
Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi các con, không có chi
ăn hết sao? Thưa rằng: Không 21:6 Ngài phán rằng:
Hãy thả lưới bên hữu thuyền, thì các
ngươi sẽ được. Vậy, các người ấy
thả lưới xuống, được nhiều cá
đến nổi không thể kéo lên nữa. 21:7 Môn đồ
mà Đức Chúa Jêsus yêu bèn nói với Phi-e-rơ rằng: Ấy
là Chúa! Khi Si-môn Phi-e-rơ nghe rằng ấy là Chúa, bèn lấy
áo dài quấn mình (vì đang ở trần) và nhảy xuống
nước. 21:8 Các môn đồ khác đem thuyền trở
lại, kéo tay lưới đầy cá, vì cách bờ chỉ
chừng hai trăm cu-đê mà thôi. 21:9 Lúc môn đồ
đã lên bờ, thấy tại đó có lửa than, ở
trên để cá, và có bánh.